Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

CỔNG LÀNG






















Làng quê Việt xưa là cụm dân cư được hình thành trên cơ sở một bộ tộc, một dòng họ. Thành Hoàng làng gắn liền với tên tuổi người khai thiên lập địa hoặc người có công trạng với triều đình, với đất nước, được Vua ban đất, lập ấp, lập làng. Thời phong kiến, người xa lạ đến muốn ngụ cư phải đổi họ hoặc nhận làm con nuôi của người trong làng.

Sau cách mạng tháng 8/1945, việc định cư do Chính quyền cấp có thẩm quyền quyết định, sự cư trú thuận tiện, nên làng đa họ, đa dòng tộc, phát triển nhanh và phong phú hơn.

Trong tâm thức người Việt Nam, mỗi khi nhắc đến quê hương, không ai lại không nhớ đến hình ảnh cây đa, giếng nước, mái đình. Đồng thời cũng hiện lên hình ảnh cổng làng thân yêu, với tình cảm thiêng liêng cùng bao kỉ niệm, nơi chứng kiến bao thăng trầm trong cuộc đời mỗi dân làng. Đồng thời, cổng làng là biểu trưng cho sự uy nghi, nền nếp riêng của làng mình. 

Đầu con đường chính vào làng,(có nơi gọi là đường Cái) gọi là cổng làng. Cổng trước được gọi là Cổng Tiền, thường được mở về hướng Đông hoặc Đông Nam, hướng của gió lành, hướng mặt trời mọc, của bình minh lên. Là nơi đón người đi làm, người đi xa về, đón khách đến thăm, đón người đỗ đạt về vinh qui Bái tổ. 

Cổng cũng là nơi mở rộng lòng bao dung nhân ái, đón kẻ tha hương, cầu thực trở về bản quán. Và quan trọng nhất là đón dâu mới nhập làng, để cho làng ngày một nảy nở sinh sôi. Cổng Tiền chính là nơi đón nhận những gì tốt đẹp nhất. 

Cổng sau của làng được gọi là Cổng Hậu. Cổng hậu là lối đi sau nhỏ hơn, hàm ý sự tiễn đưa, như đưa ma, đuổi kẻ tà tâm, kẻ trộm cắp, người vi phạm pháp luật, vi phạm qui ước, hoặc kẻ nhân cách thấp hèn. 

Ngày nay với quan niệm mới, cùng với sự đô thị hoá, cổng làng có nơi không phân biệt chính, phụ nữa, mà là nơi phân định địa giới và sự thuận tiện cho việc đi lại.

Đường đi từ cổng trước đến cổng sau, là con đường chính của làng, nơi diễn ra các sự kiện trọng đại đi qua. Bởi vậy Cổng làng có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người. Cổng làng, quan niệm về tâm linh, liên quan đến sự phát triển, sức khỏe, học hành, đến cả sự giàu có hay nghèo khó của dân cư trong làng. 

Cho nên vị trí cổng làng bao giờ cũng được xem xét kĩ càng về phong thủy, được đặt ở vị trí trang trọng nhất, dễ nhìn, rộng mở và thoáng đảng. Không bị kẻ ngoài làng lấn chiếm, làm công trình chen trước cổng, thu hẹp, làm mất lộc vào làng. Nhất là che khuất tầm nhìn, làm mất an toàn giao thông. Dân làng không ai đồng tình, làm ngơ. (Trừ phi, vì lý do cá nhân, mà người có chức quền lúc đó, đã bỏ qua lợi ích dân làng, dung túng cho việc làm sai trái, lấn chiếm cổng làng). Nói chung, những việc làm thất đức, hay chướng tai gai mắt đều có kết cục không hay, nếu không là nghiêm trọng, thì chí ít gia đình, người thân cũng không có được cuộc sống an bình. 

Bởi, phía sau cổng làng là cộng đồng dân cư, láng giềng chung sống, gắn bó, tối lửa tắt đèn, sướng khổ có nhau. Hoặc họ là anh em, bà con, dòng họ. Cổng làng ví như cửa của ngôi nhà chung là vậy.

Người xưa quan niệm, bên ngoài cổng làng là người dưng, người lạ, kẻ chầu chực khất thực, kể cả kẻ có tâm địa xấu xa, nhân cách thấp hèn, chuyên rình mò, trộm cắp. Loại người ấy, chúng không được vào làng, nên chỉ bám vào cổng làng kiếm sống. 

Làng là tổ ấm, là nơi chôn rau, cắt rốn, nơi gắn bó muôn đời của các thế hệ. Kẻ khốn nạn nhất mới bị đuổi khỏi làng hoặc không còn lối thoát mới bỏ làng ra đi. Còn với người vì sự nghiệp, vì đất nước, hoặc ngay cả lý do bất khả kháng, mà phải xa quê, nhưng ai ai cũng đau đáu hướng về làng, phấn đấu trưởng thành, làm rạng danh, vẻ vang cho làng. Nên dù phải cư trú nơi xa, dẫu giàu có đến mấy, vẫn giữ gìn chút đất hương hỏa để lấy lối về.

Dân làng, già trẻ trai gái người ở quê người phiêu dạt nơi xa, thảy đều luôn mong ước cho làng đầm ấm phồn vinh. Khi thân tàn nằm xuống, vẫn mong được về với đất cố quê. Nhưng, để cho quê yên bình, nên dù là người làng, không may chết ở nơi khác, người thân cũng hy sinh tình cảm riêng, không đem xác vào trong làng, bởi quan niệm sẽ “rước ma về”, đem tai họa cho làng. 

 Chế độ cũ, lí trưởng có trách nhiệm cắt cử người trông coi, tu bổ, gìn giữ bảo vệ, đóng mở cổng, không để kẻ xấu vào làng. Ngày nay tuy không còn phải đóng, mở cổng, nhưng nhiệm vụ quản lí, bảo vệ, gìn giữ Cổng Làng. Ngoài trách nhiệm chung của toàn dân làng, là trách nhiệm trực tiếp đầu tiên của Trưởng làng, của Trưởng ban công tác Mặt trận thôn, người chịu trách nhiệm trước dân, trong dựng xây làng văn hoá, xây dựng nếp sống nhân ái, đoàn kết nơi khu dân cư. 

Mỗi cái cổng làng đều có một nét văn hoá riêng, cái hay cái đẹp, cái tiêu biểu được viết thành câu đối khắc trước cổng, thể hiện một phần văn hóa của làng.

Cổng là ranh giới và cũng biểu hiện quyền uy của làng: "Đất có thổ công. Sông có thủy thần". Nên ngày xưa, có làng còn dựng cả bia khắc chữ "Hạ Mã" ở bên cổng, nhắc nhở ai qua cổng, ngay cả những người quyền quý cũng phải xuống ngựa để tỏ ý tôn trọng lệ làng.

***

Cổng làng Tố Phác, Xã Định Hoà, Huyện Yên Định cũng nằm trong hệ thống Cổng làng chung đó.

Ông Tổ họ Vũ làng Tố Phác là ông Vũ Đình Tương, quan Giám Chi Lăng của nhà Lê trong Lam Kinh. Sau được Vua Lê Thánh Tông, điều về Điện Thừa Hoa( Phủ Nhì) trông coi nhang, đèn lễ nghi, nơi thờ bà Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ Vua Lê Thánh Tông. Do có công với triều đình, ông được Vua cấp đất, lập ấp Tố Phác, ven sông Bồng Nga, đối diện với quần thể Phủ Nhì (điện Thừa Hoa ).

Làng Tố Phác xưa chủ yếu là họ Vũ, cùng chung huyết thống, nên trai gái trong làng không được lấy nhau. Sau này, làng du nhập nhiều họ hơn, thành đa họ và được phát triển nhanh về quy mô. Ông Vũ Đình Tương là Thủy Tổ họ Vũ, nhưng cũng là Thành Hoàng làng.

Trước đây, làng có đình, có giếng, có cổng làng... Trong cải cách ruộng đất và trong phong trào Hợp tác hóa, đã bị phá bỏ hết, để xây dựng nền văn hoá mới XHCN.

Những năm đầu thập kỉ XXI, thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, làng đã xây lại là nhà Văn hoá trên nền đất cũ, hướng cũ. Cổng làng được gia đình ông Vũ Văn Lẫu, hậu duệ Chi 2 họ Vũ, làng Tố Phác tài trợ kinh phí. Ban công tác Mặt trận thôn chọn vị trí. UBND Xã xác nhận, đã khánh thành, bàn giao cho làng vào tháng 5/2010

Mong rằng làng và những người có trách nhiệm làm tốt công tác quản lí, sử dụng. Chăm lo tu bổ, không để bị lấn chiếm, làm mất cảnh quan, để cổng làng đẹp, phong thủy, ngày mãi trường tồn, mãi là niềm tự hào chung của làng.

V V L

Tháng 10/2016


































Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét